Về bức chân dung Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên trong dân gian

Đoàn Minh Huyên quê ở làng Tòng Sơn, tổng An Tịnh, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp). Do ông có một vị trí và vai trò rất đặc biệt trong diễn trình lịch sử dân tộc, nên những vấn về ông được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, lẫn văn hóa dân gian quan tâm. Nhưng do, tư liệu chính sử không ghi chép đầy đủ, chủ yếu là truyền miệng trong dân gian, độ tin cậy không cao. Do vậy, quá trình thu thập và xử lý tư liệu để dựng lên được một cách cơ bản về nhân vật Đoàn Minh Huyên, vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất và tranh cãi, mang tính thời sự. Trong đó có vấn đề về bức chân dung (xem Hình 1).

Bức chân dung này, được có mặt ở nhiều cơ sở tín ngưỡng và lan truyền trên internet, được cho là chân dung của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, người sáng lập Bửu Sơn Kỳ Hương, một trong những tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ.

Vậy bức chân dung này, có phải là chân dung, di ảnh của Đoàn Minh Huyên?

Theo mộ bia ở chân núi Sam, Châu Đốc, thì Đoàn Minh Huyên sinh ngày 15-10 năm Đinh mão (năm 1807), mất ngày 12-8 năm Bính dần (năm 1856).

Nếu thông tin trên bia là chính xác, thì chúng ta lấy năm mất trừ cho năm sinh, Đoàn Minh Huyên được 49 tuổi. Còn nhìn lại bức truyền thần trên thì ít nhất đó là một cụ già 70 – 80 tuổi.

Lập luận thứ hai, sau một thời gian dài xa quê, vào năm 1849. Đoàn Minh Huyên trở về Tòng Sơn, trong lúc bị bệnh dịch tả đang hoành hành khắp nơi. Lúc đó, ông vừa trị bệnh và tiến hành truyền giáo – chữa khỏi bệnh được cho rất nhiều người.

Do vậy, tiếng tăm ngày càng vang dội…  người đến trị bệnh và xin qui y ngày một đông đúc. Chính sự tập trung đông đảo này, làm cho chính quyền địa phương thời ấy nghi ngờ ông là gian đạo sĩ, tập hợp dân để chuẩn bị làm loạn.

Nên vào khoảng gần cuối năm 1849, Đoàn Minh Huyên bị chính quyền bắt đem về Châu Đốc, và bị chỉ định cư trú tại chùa Tây An ở núi Sam, Châu Đốc. Tại đây, Đoàn Minh Huyên bị buộc phải làm đầy đủ các thủ tục qui y – xuống tóc, thọ giới với thiền sư Hải Tịnh.

Từ những luận cứ trên, thì trước khi Đoàn Minh Huyên mất 6 năm, râu tóc, đã thế phát thì lấy đâu ra, mà có bức chân dung trên. Cộng thêm, trước khi người Pháp đến ở nước ta chưa có máy ảnh thì làm sao mà có ảnh chụp.

Không phải là chân dung Đoàn Minh Huyên, vậy bức chân dung có nguồn gốc từ đâu?


Hình 1 - Chân dung Đức Phật Thầy
được lưu truyền trong dân gian

Hình 2 - Một ông già ở Sa Đéc

do người Pháp chụp năm 1912


Trong “La Dépêche  coloniale illustrée en Cochinchine”, ấn  hành 15 tháng 9 năm 1912 của Quan đốc chính (Directeur) J. Paul Trouillet, trong đó có phần giới thiệu về Sa Đéc “La province de Sadec” khoảng trên 10 trang giới thiệu tổng quan về tỉnh Sa Đéc: giao thông, tôn giáo, dân số…, ở trang đánh số 213 có chân dung (xem Hình 2), ghi là “Un Annamite barbu” dịch: “Một người An Nam có râu” hay “Một ông già có râu”, chứ không có ghi tên một nhân vật cụ thể. Đối chiếu “Hình 2” với “Hình 1” chân dung trong hình giống nhau từ cách ăn vật, râu, đến dáng ngồi… chỉ có khác đôi chút về màu nền của chân dung và ghế ngồi.

Nên rất có thể chân dung được cho là Đoàn Minh Huyên (Hình 1) do người đời sau phỏng họa từ “Hình 2”.


DƯƠNG VĂN TRIÊM


Read more…

Đi tìm dấu vết "ông khổng lồ" ở Thất Sơn

Một thời Thất Sơn (An Giang) nổi tiếng với các ông đạo, các võ sĩ Bảy Núi cùng pho võ công Thất Sơn thần quyền ảo diệu, những tướng cướp khét tiếng cùng các loài ác thú như mãng xà, hổ, heo rừng… Nhưng thiếu nhân vật được người Pháp mệnh danh là người khổng lồ thì câu chuyện huyền bí Thất Sơn chưa trọn vẹn. Vậy người khổng lồ ở Thất Sơn là ai, là câu chuyện thêu dệt của núi rừng hay là người bằng xương thịt?
Read more…

Tục thờ cúng ông bà vùng châu thổ phương Nam

Thờ cúng tổ tiên từ ngàn đời đã trở thành một tập tục tốt đẹp của người Việt. Nhân dân quan niệm rằng ông bà tuy đã khuất nhưng vẫn luôn âm thầm dõi theo và phò hộ con cháu trong đời sống. Chính vì thế, việc con cháu tôn kính ông bà hiện tiền lẫn những người đã quá vãng được xem như chuẩn mực đạo đức căn bản trong cung cách làm người. Trong phạm vi bài viết nầy, chúng tôi chỉ xin chia sẻ đôi nét về tục thờ cúng tổ tiên của người Nam Bộ, đồng thời cũng xin phép gọi theo cách dân dã của người phương Nam là “thờ cúng ông bà”.

Read more…

Hò đưa linh

Chúng ta đều biết, hò đích thực là tiếng hô hưởng ứng theo sau câu hát để cùng theo nhịp mà ra sức làm việc cho quên mệt. Nếu trong những khúc hát mang nội dung ca ngợi tình tự quê hương, tình yêu đôi lứa… âm thanh của tiếng hò không còn "hô" to nữa mà chỉ đưa hơi cho thêm mượt mà câu hát, và được một giai điệu thong dong, ngọt ngào thì, trái lại hò đưa linh là "đặc sản" của "đạo hò", chỉ dùng trong mỗi một trường hợp đặc biệt nhất định: khởi sự di chuyển quan tài lên linh xa đi táng an phần mộ.
Read more…

Đi tìm lời nguyền 30 năm trước tại núi Cấm

Có thể chấp nhận, hoặc không chấp nhận giả thuyết này, nhưng với nhiều người dân An Giang, núi Cấm luôn ẩn chứa trong lòng nhiều huyền bí.

Núi Cấm - ngọn núi kỳ bí nhất trong dãy Thất Sơn

Với độ cao 705m, chu vi 28.600m2,  núi Cấm (xã An Hảo-Tịnh Biên), không chỉ được biết đến với tư cách là ngọn núi cao nhất, lớn nhất.. mà còn được tương truyền là ngọn núi ẩn chứa nhiều điều kỳ bí nhất trong dãy Thất Sơn huyền bí của An Giang. Bởi không chỉ kỳ bí về danh xưng mà ngọn núi được mệnh danh là Đà Lạt của ĐBSCL còn  là nơi hội tụ của những câu chuyện đầy màu sắc huyền bí của thế giới tâm linh: núi Cấm là chốn linh thiêng, là nơi dành riêng cho các bậc chân tu hoặc thần tiên hội tụ mỗi khi giáng thế... Về danh xưng núi Cấm, theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hữu Hiệp (Hội VHNT An Giang), có giả thuyết cho rằng, tên núi Cấm xuất phát từ lệnh cấm dân lên núi của chúa Nguyễn Phúc  Ánh (1762-1820). Theo thuyết này, trước khi lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long, trong những ngày trên đường lánh nạn Tây Sơn, chúa Nguyễn Phúc Ánh có lúc đến ngọn núi này trú ẩn và để đảm bảo không bại lộ tông tích, ông đã ban lệnh cấm người dân lui tới nơi đây.





Ngoài ra, theo tài các tài liệu nghiên cứu tôn giáo, những người theo tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa (đạo Phật giáo nội sinh do hai tu sĩ  yêu nước, có tinh thần kháng Pháp là  Đoàn Minh Huyên (1807- 1856), thường được gọi là Đức Phật thầy và  Ngô Lợi (1830-1890), thường được gọi là Đức Bổn sư, sáng lập. Tôn giáo này cực thịnh ở An Giang, nhất là vùng Thất Sơn) lại lý giải danh xưng núi Cấm theo hướng khác. Theo đó, núi Cấm là chốn hiển linh bậc nhất thế giới. Bởi nơi đây sẽ là nơi được đấng bề trên chọn lựa để mở “Cuộc phán xét cuối cùng”, tức Hội Long Hoa nên đã cấm người trong bổn đạo đến sinh sống vì  sợ làm ô uế chốn linh thiêng. Theo đức tin của những người theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa, vào “ngày tận thế”,  trên trời sẽ xuất hiện tiếng nổ long trời lở đất, làm núi Cấm xé đôi. Khi đó từ trong lòng núi hiện ra cung vàng, điện ngọc để đấng Minh Vương mở “Cuộc phán xét cuối cùng” để lập lại đời Thượng Ngươn với cuộc sống thái bình, an lành.Theo đó những người sinh thời sống ác, không tích đức, hành thiện, nhất là những người làm ô uế cảnh vật núi Cấm sẽ bị trừng phạt…
Có thể chấp nhận, hoặc không chấp nhận giả thuyết này, nhưng với nhiều người dân An Giang, núi Cấm luôn ẩn chứa trong lòng nhiều huyền bí. Đại lão lương y Nguyễn Văn Y (tên thường gọi là Ba Lưới), SN 1913, hiện là Trưởng ban quản tự chùa Phật Lớn trên đỉnh núi Cấm, người có trên 70 năm gắn bó với ngọn núi này, được báo chí tôn vinh là “Đạo sĩ cuối cùng ở Thất Sơn” đã khẳng định với tôi rằng, vào thời điểm ông mới lên đây sinh sống, núi Cấm linh thiêng lắm. “Muốn lấy một cục đá, hay chặt một nhánh cây mang xuống chân núi cũng không dễ”, ông Ba Lưới nghiêm mặt nói đầy ẩn ý. Những ngày lưu lại núi Cấm, đi và hỏi, chúng tôi mới phần nào hiểu được ẩn nghĩa từ câu nói của ông Ba Lưới. Thật vậy, gần như mỗi vồ đá, hay hang động, điện thờ nơi đây đều gắn với “chuyện xưa, tích cũ”. Điển hình như hang Bác vật Lang, tức vị kỹ sư đầu tiên ở xứ Nam bộ Lưu Văn Lang (1880-1969). Hang đá này không chỉ nổi tiếng khi gắn với tên tuổi nhà bác vật có thông linh đến mức chỉ cần dùng tay vỗ vào thành cầu có thể xác định thời điểm bị sụp đổ…. mà còn bởi nhiều linh ứng khác. Tương truyền, hang động này ăn thông ra tận biển Hà Tiên. Có người đàn ông cho là chuyện mê tín, không đáng tin  nên đã dùng dao đánh dấu vào trái dừa trước khi thả vào hang với thách thức: nếu thật sự hiển linh, thì sau này đi Hà Tiên phải nhìn thấy trái dừa trên biển. Bẵng đi một thời gian, trong một lần có dịp đến Hà Tiên dạo biển, đang ngồi trên bờ thưởng thức hải sản, người đàn ông này bỗng nhìn thấy trái dừa đánh dấu ngày trước đang trôi dạt trên biển Hà Tiên. Nghe nói sau sự kiện đó ông này đã bỏ hẳn thái độ báng bổ thần thánh mà đã chuyển sang ăn trường chay…
Sinh thời, ông Hai, (tục danh Lâm Cảo Kía, sinh năm 1910) là phật tử giữ giới luật tại chùa Lá (Vạn Linh) trên đỉnh núi Cấm, (đã tịch từ mấy năm trước và an tang tại núi Cấm) khẳng định là người không tin chuyện bùa phép hay chuyện mê tín dị đoan, nhưng trong một lần hữu duyên được tiếp chuyện với ông, tôi đã được nghe kể nhiều chuyện “sởn da gà” về sự huyền diệu của núi Cấm. Theo lời ông Hai, lúc mới hình thành, chùa Vạn Linh được cất bằng cây, lợp lá (nên sau này có tên chùa Lá). Tuy rất đơn sơ, nhưng chùa Vạn Linh được nhiều người tu hành nể trọng và người mộ đạo tín ngưỡng bởi câu chuyện có 2 ông hổ quy phục. “Đất hai bên bàn thờ phật luôn bóng mịn vì tối nào hai ông cũng về nằm để nghe kinh kệ và canh giữ không cho hoang thú vào chùa phá phách”, ông Hai nhớ lại. Theo ông Hai, sự huyền diệu của núi Cấm thời đó còn thể hiện ở chỗ, những thứ “bàng môn, tả đạo” nhất định không thể trụ được trên ngọn núi này. “Chuyện xảy ra khi tôi theo thầy lên núi dựng chùa được một thời gian. Qua tiếng đồn, biết tôi là phật tử có tay nghề thợ mộc với khả năng chạm trổ đẹp nên một nhóm người tu định lên núi Cấm mở “đại bản doanh”cho đạo phái mà theo họ là đứng ở vị trí cao nhất trong các tôn giáo, đã cử người đến mời tôi sang làm cột cờ, trên đỉnh có chạm lộng hình linh vật… Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi hoàn thành, thượng cờ là giông gió nổi lên bẻ gãy cột cờ, hay “vặn” rời linh vật ra khỏi cột cờ quăng đi rất xa... Sự việc lặp đi, lặp lại nhiều lần như thế khiến nhóm đạo sĩ này đã cuốn gói bỏ núi Cấm đi mất dạng”. Theo lời ông Hai, lần gãy cờ đầu tiên, ông chỉ nghĩ là sự việc bình thường do tác động ngẫu nhiên của thiên nhiên, nhưng những lần liên tiếp sau đó đã khiến ông nghĩ đến chuyện trừng phạt dành cho những “nhà tu ngạo mạn”. Bởi cột cờ được sử dụng nguyên thân cây danh mộc được tuyển lựa từ rừng sâu về, nhưng vừa thượng cờ là dễ dàng gãy ngang như cây mía.
Đi tìm lời nguyền 30 năm về trước
Xuất phát từ quan niệm núi Cấm linh thiêng như vậy nên những người theo tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa tin rằng, khi con người  làm ô uế, hoặc phá vỡ khí thiêng nơi đây sẽ bị đấng bề trên trừng phạt theo chu kỳ mỗi 30 năm tái hiện liên tiếp trong 2 năm. Trừng phạt người gây hại thì dễ hiểu, nhưng vì sao lại trừng phạt theo quy luật 30 năm đáo hạn thì quả là câu chuyện không đơn giản.Dù rằng trong những lần trao đổi với Đại lão danh y Ba Lưới, chúng tôi đã phần nào nhìn thấy hình ảnh “trừng phạt” bởi con người đã tàn phá núi Cấm vào 60 năm trước. Theo lời ông Ba Lưới: “liên tiếp trong 2 năm 1952-1953 (tức cách thời điểm 2 năm sạt lở núi liên tiếp 1982-1983 đúng 30 năm),sau thời gian nhiều người lên núi Cấm kiếm sống với nghề săn bắt, khai thác gỗ… thì bỗng nhiên núi Cấm bị khô hạn dữ dội, cây trồng héo úa, không có hoa lợi… nhiều người phải đào củ thiên tuế mài lấy bột ăn đỡ đói”.


Sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay là quy luật? Một câu hỏi hấp dẫn nhưng không dễ trả lời. Vì vậy không quản cái nắng hầm hập của vùng núi đá đang bước vào cao điểm mùa khô, chúng tôi ngược xuôi trong vùng Thất Sơn ngõ hầu tìm gặp cao nhân để giải mã“lời nguyền” này. Được một đồng nghiệp địa phương “mớm mồi”: “Vào Ba Chúc, huyện Tri Tôn nơi xưa kia Đức Bổn sư Ngô Lợi khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, may ra sẽ có người giúp được”. Bắt xe vào Ba Chúc dưới cái nắng như đổ lửa, rồi gõ cửa nhà nhiều vị Trưởng gánh (người đứng đầu một gánh (tổ chức, đơn vị) trong bổn đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa). Trái với không  khí vui vẻ, hiếu khách lúc đầu, khi vừa nghe chúng tôi đặt vấn đề các vị cao nhân này đều lắc đầu từ chối một cách quyết liệt đến mức tôi không sao lý giải được. Họ không biết, hay họ sợ bị quy chụp tội mê tín, dị đoan? Sau cùng, thấy tôi đường xa đến, không nỡ để ra về “tay không”, một vị tu sĩ đã “mách nước”:  “Ở trong sóc Sà Lôn (xã Lương Phi), nơi phát tích của Đức Phật Trùm, còn con cháu đang thờ cúng, vào đó hỏi may ra…”. Tôi lại bắt xe vào sóc Sà Lôn nằm sâu dưới chân núi Sà Lôn. Sau khi viếng mộ Đức Phật Trùm trong khuôn viên chùa Sà Lôn, chúng tôi tìm đến nơi thờ tự do con cháu ông canh giữ khói hương. Sau khi vượt qua trở ngại về khác biệt ngôn ngữ (do phần lớn người cao tuổi ở đây có thói quen sử dụng tiếng Khmer), lòng lại buồn rười rượi… Không bỏ cuộc, chúng tôi lại tìm về xã Thới Sơn (huyện Tịnh Biên) nơi còn đang lưu giữ nhiều di tích về Trại Ruộng, nơi ngày xưa Đức Phật thầy Đoàn Minh Huyên tổ chức khai khẩn đất hoang trồng rẫy, cấy lúa… rồi xuôi ra tận thị xã Châu Đốc, nơi Đức Phật thầy “an nghỉ”, nhưng tất cả đều kết thúc bằng một chữ “không”. Đang lúc tưởng như rơi vào tuyệt vọng, bất chợt trong đầu tôi lóe lên… Trong trí nhớ xa xưa hiện về hình ảnh về người bạn vong niên có nhiều năm tu theo tông phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa đang sinh sống dưới chân đỉnh Phụng Hoàng Sơn (núi Cô Tô).
Lần theo hàng cây cổ thụ trải dài đến tận chân núi, chúng tôi mới đặt chân lên cửa nhà anh. Đó là nơi địa thế heo hút với thế giới bên ngoài. Sau khi nghe tôi cầu cứu, anh không nhận là thông hiểu, nhưng đồng ý giúp đỡ theo kiểu “biết tới đâu, nói tới đó” với điều kiện không để lộ tung tích. Anh cho biết, đã từng có nghe qua lời nguyền 30 năm,nhưng hồi đó các tiền bối chỉ nói: “Chuyện huyền cơ không giải thích được”. Tuy nhiên, qua tìm hiểu cá nhân, anh cho rằng nhiều khả năng lời nguyền 30 năm có liên quan đến quan niệm vòng tuần hoàn 60 năm mà các bậc thâm nho ngày xưa gọi là “lục thập hoa giáp-60 năm”, tức một chu kỳ phối hợp giữa thập can (10 vị thiên can, gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) với thập nhị chi (12 vị địa chi, gồm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Còn vì sao lời nguyền lại xảy ra theo quy luật 30 năm, tức phân nửa lục thập hoa giáp, thì theo anh, có khả năng là do đấng bề trên muốn cảnh báo “giữa nhiệm kỳ” với 2 năm liên tiếp để ít nhất một lần trong đời người đều nhận được lời nhắc nhở trừng phạt này để kềm chế sự tác động đến chốn linh thiêng.
Vén bức màn huyền bí
Để khách quan, chúng tôi không bình luận hay lạm bàn đến chuyện đúng-sai, hợp lý hay bất hợp lý xung quanh câu chuyện lung linh huyền bí này. Tuy nhiên, với tất cả nỗ lực, chúng tôi cố gắng liên hệ với nhiều nhà nghiên cứu, tiếp cận với nhiều tài liệu khoa học có liên qua với mong muốn cung cấp đến người đọc thông tin đa chiều về núi Cấm. Theo TS Bùi Đạt Trâm, nguyên GĐ Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn An Giang, người từng được Ban chỉ đạo thực hiện Địa chí An Giang mời tham gia biên soạn phần nội dung “Địa hình An Giang”, thì giả thuyết cho rằng núi Cấm xuất phát từ lệnh chúa Nguyễn Phúc Ánh cấm dân lui tới nơi đây trong những ngày lánh nạn Tây Sơn có khả năng chưa chính xác. Bởi trong sách “Gia Định Thành Thông Chí”, tác phẩm ghi chép sớm nhất về đồi núi ở An Giang, tác giả Trịnh Hoài Đức (1765-1825), một đại thần được trọng dụng dưới thời Gia Long, lại không hề “điểm danh” đến núi Cấm.Thật vậy, trong quyển 2 (Sơn xuyên chí), trong phần Trấn Vĩnh Thanh, tuy tác giả có mô tả khá chi tiết đồi núi ở An Giang lúc bấy giờ gồm 19 núi với các thông số địa hình khá đa dạng, như: Đo chu vi núi dùng đơn vị dặm, đo độ cao núi dùng đơn vị trượng…, nhưng tuyệt nhiên không thấy nhắc đến tên núi Cấm. Mãi đến gần nửa thế kỷ sau (1865), sách “Đại Nam Nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, mới bổ sung núi Cấm khi trình này về núi ở An Giang. Theo sách này, An Giang có 24 núi, trong đó ngoài 19 núi trùng với số núi đã được Trịnh Hoài Đức miêu tả, còn có thêm 5 núi được bổ sung, trong đó có núi Cấm (Cấm sơn) nhưng cũng chỉ miêu tả rất ngắn gọn và tuyệt nhiên cũng không đề cập, hay nhắc đến sự kiện lệnh cấm của vua Gia Long: “Ở cách huyện Hà Dương 17 dặm về phía Tây nam, đỉnh núi rất cao, ít người đi đến cũng là một trong Thất Sơn”.
Riêng câu chuyện về Hội Long Hoa, do được xây dựng trên cơ sở yếu tố tâm linh nên rất khó để cân phân đúng- sai, một cách thật chính xác như đáp án của bài toán. Tuy nhiên theo một nhà khoa học có tên tuổi ở An Giang, nếu bóc đi lớp vỏ huyền bí của câu chuyện về tiếng nổ vang trời làm xé đôi núi Cấm, trong đó sẽ hiện ra cung vàng, điện ngọc nơi diễn ra Hộ Long Hoa… thì đó là câu chuyện hoàn toàn có thật và rất có ích cho chúng ta và cho cả hậu nhân ngày sau. Bởi nếu hiểu theo hàm nghĩa cung vàng, điện ngọc là báu vật, thì hoàn toàn chính xác với núi Cấm. Bởi theo ThS Trần Anh Thư, trong mục “Địa chất khoáng sản” (Địa chí An Giang, tập 1) thì trong lòng núi Cấm đang chứa đựng lượng tài nguyên khoáng sản rất đa dạng và quý. Theo đó núi Cấm có mỏ đá Ốp-lát, chủ yếu là các nhóm đá Granite, Granodiorite… có nhiều màu sắc rất được ưu chuộng trong trang trí cao cấp. Không chỉ vậy, theo ThS Thư, ở sườn Đông nam  lại có loại đá Granite biotit hạt nhỏ của phức hệ Định Quán xem kẽ với các đá Granite hạt trung màu hồng của phức hệ Đèo Cả. Còn ở phía Nam tiếp giáp với núi Nam Qui phân bổ chủ yếu là Granodiorite xám xanh dạng đốm da báo, đỏ bóng và độ nguyên khối cao…Ngoài ra nơi đây còn có nhiều khoáng sản quý khác như: Diatomite dùng trong công nghiệp lọc hoạt tính, đặc biệt là lọc bia, dầu ăn…, và cao lanh (đất có chứa khoáng sét mang tên Kaolinite) dùng làm sứ cách điện cao cấp…
Vì vậy, theo một nhà khoa học có tên tuổi ở An Giang, nếu tiếp cận câu chuyện “núi Cấm bị xé đôi” và người làm ảnh hưởng đến cảnh quang nơi đây sẽ phải đền tội theo hướng tích cực, thì đó là lời cảnh báo có ích theo hướng: Nếu không gìn giữ, bảo vệ tài nguyên núi Cấm nói riêng, tài nguyên thiên nhiên nói chung, thì sẽ gánh lấy hậu quả từ cơn thịnh nộ của thiên nhiên!

HÁN VINH


Read more…

Thất Sơn huyền bí: “Cảnh Tiên” tại thế của các chiến sĩ Cần Vương

Khi xã hội nông nghiệp tổ chức theo lối cổ truyền bị lung lay trước sự xâm nhập của một hệ thống kinh tế có thể lực hơn như hệ thống tư bản thì xảy ra khủng hoảng, chẳng những về kinh tế mà còn cả về tâm lý.
Read more…

Những đạo giáo ở Nam Bộ

Ðạo giáo Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như một số đạo giáo khác không phải là một tông phái của Phật giáo, tuy nó có phần nào dùng một số giáo lý Phật giáo. Thực sự đây là một đạo giáo cứu thế (religion messianiste) đã dược khai sinh không những ở Nam Bộ mà cả ở vùng Ðông Nam Á như Philippines, Indonesia. Có nhiều đạo giáo tương tự hình thành trong những điều kiện nhất định của thời điểm chính trị và không gian xã-hội : khi chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược vùng Ðông Nam Á vào thế kỷ 16 trở đi, dù bọn vua quan phong kiến có đầu hàng hoặc thỏa hiệp với bọn thực dân xâm lược thì tầng lớp sĩ phu và nông dân yêu nước vẫn chống lại bằng mọi hình thức.
Read more…

Một ngày về Vĩnh Xương

Tôi về Vĩnh Xương đã mấy lần, lần nào cũng có nhiều cảm xúc dạt dào. Lần này cũng vậy, có lẽ trong tôi mang theo nhiều thứ tình cảm khó tả.
Đứng kia bờ sồng Tiền, từ Hồng Ngự nhìn qua Tân Châu cảnh trời nước thật mênh mông. Mùa này nước không lớn nhưng màu phù sa đục đỏ tràn về, nó bồi đắp cho ruộng vườn thêm tươi tốt. Mới đi Vĩnh Xương lần đầu nên ông Tám nóng lòng tới nơi lắm!
Read more…

Phát biểu tại Đại hội đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Kính thưa Chủ tịch Đoàn,
Kính thưa Ông Dương Ngọc Tấn, Phó trưởng ban Tôn giáo Chính phủ,
Kính thưa Ông Dương Văn Khá, Vụ trưởng Vụ các Tôn giáo  khác,
Kính thưa toàn thể đại biểu, Các vị cư sĩ tín đồ BSKH,
Read more…

Phòng thuốc Nam thầy Tư Ngoan ở An Giang

Bệnh là Khổ, là Dukkha. Ai cũng công nhận bệnh là khổ vì người nào cũng nói Bị Bệnh, chẳng ai nói Được Bệnh. Trong khi Sinh chẳng mấy người thấy đó là khổ vì không bao người nói mình Bị Sinh ra!
Read more…

Nhận xét về ca dao Hậu Giang

Trong số những Ca dao xuất xứ từ miền Hậu Giang, có lẽ lọai “sấm vãn” là xưa nhất. Không đi sâu vào nội dung, chúng ta chỉ ghi nhận vài điểm: Vãn là bài thơ, văn vần. Sách xưa nêu rõ thí dụ: Nhị độ Mai, Văn (Les pruniers refleuris, poeme tonkinois). Bản in địa phận Sài Gòn 1894, hoặc hựu việt, Văn viết trong tuồng hát bội. Vì lối phát âm không rõ rệt của người miền Nam nên Vãn bị lầm là Giảng và Sấm Giảng nghĩa là một bổn băn vần truyền tiên đóan thiên cơ, giảng giải đạo lý. 
Read more…

Hiện thân

“Tôi, hay chúng ta, bất kỳ ai cũng có thể là hiện thân cho sự tốt lành và ấm áp" (một câu nói từng đọc)
Mọi người đã về từ rất lâu rồi. Cái sân còn trơ mấy lá vàng khô khốc, thỉnh thoảng có tiếng chổi loạt xoạt phát ra từ các cô, các chị đang quét sân. Vắng người, vậy mà bạn lại hình dung ra cả một rừng người đang ngồi trước mặt, giống như vừa cách đây mấy tiếng đồng hồ. Và, trong đám đông những con người đáng thương ấy, lại sáng mãi, ấm mãi mãi một ánh mắt già nua giàn giụa. Đôi mắt ấy ám ảnh bạn có thể sẽ rất lâu, rất lâu sau đó, có thể đến khi bạn già đi như thế.
Đó là đôi mắt của một bà cụ tuổi gần tám mươi. Mọi người không biết tên bà, không biết bà từ đâu đến. Lần gặp gỡ bà cụ hôm nay cũng có lẽ cũng là lần duy nhứt trong đời. Bà khập khững đi cùng cây cậy trên con đường đất ngoằn ngoèo, chen giữa dòng người đông đảo để vào tịnh xá từ rất sớm. Dáng đi ấy đã không còn vững chãi, cứ bước những bước chân thật chậm, thật nhẹ, đôi chân run run như muốn khuỵu. Bà chọn cho mình một chỗ ngồi ở hàng ghế đầu tiên và lặng lẽ chờ đợi.
Read more…

Huyền thoại về điện Ông Hổ

Thời vùng núi Thất Sơn còn hoang vu, người dân chưa đến khai hoang nhiều, đa số là những đạo sĩ, ẩn sĩ tìm đến để tu hành hay làm nơi luyện bùa nuôi ngải cho yên tịnh. Đến một hôm có tiếng cọp gầm thét vang động cả rừng xanh, mọi người hiểu ra con Tiểu Bạch Hổ đã quay về, nó là hậu duệ của con Bạch Hổ khi xưa do một Lục Miên đưa qua biên giới. Câu chuyện của năm năm về trước lại hiện về…
Bạch Hổ xuất hiện
Con Bạch Hổ xưa được ông Lục thuần dưỡng, biết nghe tiếng nói của người. Dọc đường chẳng may ông Lục Miên vì không thuộc đường núi nên bị té xuống một vực sâu mất xác. Riêng con Bạch Hổ cứ ở đó nhìn xuống đáy vực mà mong chờ chủ. Khi thấy vắng bóng chủ mấy ngày đêm, nó mới gầm rú lên thê thảm suốt mấy ngày đêm đến đói xỉu.
Khi đó có một đoàn đạo sĩ đi qua, thấy con cọp to lông trắng nằm lả ra, liền bảo nhau đưa thức ăn và thuốc để cứu chữa con cọp có nghĩa.
Read more…

Huyền thoại võ phái Thất Sơn Thần Quyền

Ông Đạo Ba ẩn cư ở Học 
Lãnh Sơn, nhân chứng cuối 
cùng của Thất Sơn Thần Quyền
 Năm 1859, Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh. Nhiều chí sĩ, nghĩa sĩ đã tụ quân kháng chiến cứu nước ở vùng Bảy Núi, tức Thất Sơn (nay thuộc tỉnh An Giang). Trước sức mạnh vũ khí hiện đại của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân chỉ có binh khí thô sơ và lòng quả cảm. Những người chỉ huy phải sử dụng đến “vũ khí tâm linh” để tiếp thêm sức mạnh cho binh sĩ. Võ phái Thất Sơn Thần Quyền ra đời từ đó.
Hiện nay, truyền nhân duy nhất và cuối cùng của Thất Sơn Thần Quyền là võ sư Hoàng Bá, cư ngụ tại cầu Tầm Bót, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đã 75 tuổi, gần 20 năm nay, võ sư Hoàng Bá đóng cửa võ đường, không thu nhận đệ tử nữa. Ông cho biết, bản thân ông chỉ lĩnh hội được một số tuyệt kỹ thuộc về phần “dương công” chứ không nắm được nhiều những bí quyết “âm công”.
Read more…

Hái lộc đầu năm

Ngày xuân đến, hoa cỏ và đất trời thay đổi, con người dâng trào cảm xúc chờ đón vạn điều may mắn đến với mình và cùng gia quyến. Ngày đầu năm đi chùa lễ Phật và hái một cành lộc xuân cầu mong những điều tốt lành may mắn là việc làm đầu tiên của rất nhiều người Việt Nam.
Ngày nay ở nhiều ngôi chùa, cây lộc đầu năm được chuẩn bị công phu và trang hoàng rất đẹp. Nhìn các lộc xuân được đặt trong các phong bì đỏ nhẹ nhàng rung rinh trong gió xuân chứa đựng bao điều chờ mong của người đi lễ chùa và hái một cái lộc đầu năm. Phần lớn cành lộc xuân điều chứa đựng nhiều câu chúc có ý nghĩa sâu sắc có hàm ý thâm thuý. Ngoài những câu chúc Tết hay còn có cả những bất ngờ khi một người nào đó nhận được món quà may mắn đầu năm của Ban tổ chức tặng ngẫu nhiên.
Read more…

Tết về, về Tết...

28 Tết, những người con tứ xứ lưu lạc, nượng tựa nơi Sài thành về quê. Cửa ngõ thành phố kẹt cứng xe, người đông như nêm. Những chiếc xe chở người và hàng đầy ắp, tất nhiên cũng đong đầy bấy nhiêu niềm vui được về quê, sắp đoàn tụ bên gia đình, được về nơi "chôn nhau cắt rốn".
Niềm háo hức khi trở về sum vầy dịp Tết ấy, mình hiểu, mình cảm, và thương, vì mình cũng là người xa xứ, cũng biết nhớ khôn nguôi chốn quê nhà, cũng cảm được vị ngọt của quê hương trong những ngày về. Và, cũng hiểu rằng, dẫu nhích từng chút, dẫu có đường xa nhưng không mệt nhừ, và người về chắc cũng cảm thông vì cái vui ngày Tết đã chiếm hết mọi ngóc ngách tâm hồn.
Read more…

Nhớ Tết xưa

Tết xưa ở quê tôi nghèo, cực lắm nhưng vui. Những ngày cận Tết đi đâu trên cái xứ cù lao này cũng thấy chuyện ngâm, xay bột bằng cối đá để quết bánh tráng, bánh phồng, đặc biệt là bánh phồng nếp tráng nếp sữa thơm dẻo lạ thường.
Má tôi rất thích làm mứt chuối xào gừng đậu phộng, mứt dừa ngào đường và bánh tét nhưn mỡ hành. Những liếp tre phơi bánh mọc đầy các con đường làng, tiếng cối quết bánh thình thịch khá vui tai.
Read more…

Lời thưa cùng quý đạo hữu và độc giả

Kính gởi quý đạo hữu và độc giả,
Bửu Sơn Kỳ Hương là tôn giáo bản địa ra đời ở Nam Kỳ vào năm 1849 với giáo lý mang tinh thần nhập thế sâu sắc. Nói đến Bửu Sơn Kỳ Hương, không chỉ đơn thuần là nói đến một tôn giáo, mà còn nói đến phong trào khẩn hoang với quy mô lớn và các hoạt động chống Pháp có tầm ảnh hưởng.
Vì những giá trị cao đẹp đó, gần hai thế kỷ trôi qua, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương càng lúc càng tỏa sáng và thu hút nhiều đối tượng quan tâm tìm hiểu. Đến nay, có rất nhiều sách, công trình nghiên cứu, bài viết... khai thác về đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ở nhiều góc độ khác nhau.
Read more…